Tìm hiểu nội dung bản văn
Sách Isaia được viết khoảng từ năm 740 đến 450 TCN. Nội dung của sách này có thể được chia thành 3 phần với 3 giai đoạn lịch sử khác nhau và chức năng ngôn sứ, cách thức truyền tải sứ điệp cũng khác nhau. Tất cả 3 phần của sách Isaia (ch.1-39; 40-55; 56-66) đều diễn tả một Thiên Chúa công minh, quan tâm và yêu thương dân.
“Tôi tớ” là hạn từ mà Cựu Ước dùng để nói đến con cái Ít-ra-en trong tương quan của họ với Thiên Chúa (Tv 19,11-13). Thường thì hạn từ này ám chỉ cho toàn dân, nhưng cũng có khi chỉ riêng 1 nhân vật nào đó trong Kinh Thánh. Thiên Chúa dùng hạn từ này khi phán bảo với dân (14 lần), Mô-sê (6 lần), Đa-vít (21 lần), các ngôn sứ (9 lần), Gióp (7 lần). Điều đó cho thấy rằng người tôi tớ của Chúa là những người được chính Chúa tuyển chọn.
Đoạn Kinh Thánh (Is 42,1-4.6-7) thuộc về đoạn đầu trong bài ca thứ 1 của người tôi trung đau khổ trong sách ngôn sứ Isaia (trong số 4 bài ca: Is 42,1-4; 49,1-6; 50,4-11; 52,13—53,12). Trong bài ca này, người tôi trung của Thiên Chúa được giới thiệu như một vị ngôn sứ cao trọng hơn hết thảy các ngôn sứ khác, vì Người là hiện thân của giao ước và là ánh sáng (c.6). Người tôi trung của Thiên Chúa thực thi sứ mạng giải phóng và cứu độ dân Thiên Chúa (c.7).
Trong biến cố tuyển chọn, Thiên Chúa đã ban thần khí của Người cho Vị Tôi Trung. Hình ảnh thông ban thần khí thường được thấy trong những biến cố tuyển chọn thủ lãnh thời Cựu Ước (c.1).
Đoạn Kinh Thánh chúng ta đang tìm hiểu nằm ở phần thứ 2 trong tổng số 3 phần của sách Isaia. Phần sách này mang cung giọng an ủi, được biên soạn vào cuối thời kỳ lưu đày của con cái Ít-ra-en bên đất Babylon (586-539 TCN). Với bối cảnh ấy, chúng ta có thể hiểu các hạn từ “cây lau” và “tim đèn” ở câu 3 đều diễn tả nỗi khổ tâm, đau xót của những người phải xa rời quê cha đất tổ và sống nơi đất khách quê người; mặc dù lịch sử cho thấy điều kiện sống bên ngoài của những người ấy không đến nỗi tệ.
Các cặp hạn từ כֵּהֶה (leo lét), כָּהָה (yếu) và רָצַץ (giập vùi, khuất phục) là những cặp từ có cùng gốc từ với nhau. Điều này muốn diễn tả rằng Người Tôi Trung mà Chúa tuyển chọn là người hiện diện giữa dân của Thiên Chúa đang trong nỗi khổ tâm vì tha hương. Người ấy rất mực hiền lành: “Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy; tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi” nhưng cũng rất mực kiên trung, mạnh mẽ. Người ấy sẽ chú tâm thiết lập công lý giữa muôn dân (cc.3-7; Is 11,3-4). Trong 4 câu đầu, hạn từ công lý (מִשְׁפָּט) được lặp lại tới 3 lần để nhấn mạnh sứ mạng mà Người Tôi Trung được Chúa tuyển chọn cần phải thi hành.
Câu 6 cho chúng ta nhận ra rằng Người Tôi Trung của Thiên Chúa, được chọn để đặt giao ước (בְּרִית) với dân thì không phải là toàn dân Ít-ra-en nhưng là một người. Đấng ấy sẽ hoàn tất lời hứa của Chúa với dân và đưa dân bước vào tương quan mật thiết hơn nữa với Gia-vê Thiên Chúa (Is 49,6-8). Thiên Chúa đặt Người Tôi Trung của Ngài trở nên ánh sáng hướng dẫn muôn dân đến cùng vinh quang của Thiên Chúa, chữa lành những vết thương thể lý lẫn tâm hồn những người đau khổ và giải thoát xiềng xích cho những người bị giam hãm bởi bất công, tội lỗi (Xh 3,15; 6,3; Is 61,1).
Tất cả những sứ mạng vừa nêu của Người Tôi Trung được hiện thực hóa nơi chính Đức Giê-su Ki-tô (Lc 1,79; 2,32; Ga 1,4; 8,12.32; 9,5.39,41; 12,46; 14,6; Cv 26,18; Cl 1,13), Đấng được Chúa Cha tuyển chọn như diễn tả trong Tin Mừng (Lc 3,15-16.21-22) hôm nay.
Giuse Tuân. Vũ Chí Thành, Sj
Tham Khảo
CGKPV, Kinh Thánh - ấn bản 2011, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tr.1616-1617.
John Barton and John Muddiman, The Oxford Bible Commentary, Oxford University Press, 2001, tr.467-468.
Thomas L. Constable, Notes on Isaiah, 2012 electric ed., published by Sonic Light, pp.182-184.


